22 Nov, 2008
Philippines đăng thư ngỏ về Biển Đông
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2008/11/081121_manilatimes_asean_sea.shtml
Báo Manila Times đăng thư ngỏ kêu gọi năm nước ASEAN cùng hành động chứ không theo đuổi các tuyên bố riêng lẻ trong tranh chấp biển với Trung Quốc.
Tờ báo tiếng Anh của Philippines 17/11/2008 đã đăng lá thư của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông http://www.seasfoundation.org/ nói rằng cần dựa vào Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) để giải quyết tranh chấp.
Tổ chức tư nhân này kiến nghị công dân và chính phủ Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam hãy gác lại những khác biệt và hãy hành động cùng nhau hướng tới một giải pháp cho Biển Đông theo Luật biển.
Họ khuyến cáo việc các nước ASEAN không nên theo đuổi việc tranh chấp riêng rẽ với Trung Quốc.
Thư ngỏ gửi nhân dân và chính phủ các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - The South East Asian Sea Research Foundation
Bản đồ minh họa phân chia vùng đặc quyền kinh tế theo UNCLOS. Thềm lục địa cũng sẽ được phân chia theo nguyên tắc UNCLOS. Bản đồ cho thấy tuyên bố của Trung Quốc đi ngược lại với cách phân chia này. Các vùng lãnh hải 12 hải lý của Quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Hoàng Sa và Scarborough Shoal không được tính vào vùng phân chia này, cho tới khi các tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo này và Scarborough Shoal được giải quyết. |
Biển Đông tiếp giáp với Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam và Trung Quốc. Biển Đông rất quan trọng cho kinh tế, giao thông vận tải và an ninh của các nước này. Đối với quốc tế, Biển Đông là một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất trên thế giới; nó đóng vai trò sống còn cho thịnh vượng kinh tế của Đông Nam Á, Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan và tất cả các quốc gia giao thương quan trọng. Do vậy, tranh chấp Biển Đông là mối quan tâm của tất cả chúng ta. Trong những nước tranh chấp thì Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất đối với tất cả các nước còn lại. Trước hết, trong khi hầu hết các đòi hỏi trái ngược nhau chỉ liên quan đến chủ quyền đối với các đảo nhỏ, đá và bãi ngầm thì Trung Quốc là nước duy nhất tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông. Thứ hai, quân đội của Trung Quốc lớn nhất và cũng là quân đội phát triển nhanh nhất trong vùng. Thứ ba, Trung Quốc là quốc gia duy nhất trong những nước tranh chấp có truyền thống sử dụng vũ lực để chiếm các đảo của các nước khác.đang trong tình trạng tranh chấp
Tuyên bố của Trung Quốc trong Biển Đông có thể so sánh với việc một người tuyên bố rằng anh ta là người duy nhất sở hữu toàn bộ ô xy trong không khí. Không những tuyên bố này không có cơ sở pháp lý và bất công , mà nếu chúng trở thành sự thực thì Đông Nam Á có thể bị Trung Quốc thống lĩnh và các quốc gia khác cần đi qua Biển Đông sẽ bị ngăn chặn trong quá trình tranh chấp.
Do vậy việc làm sao để Biển Đông không trở thành lãnh thổ hay cái hồ của Trung Quốc là điều quan trọng mang tính sống còn. Các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam, ASEAN, Trung Quốc và tất cả các quốc gia khác trên thế giới đều có quyền trên vùng biển quốc tế này theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam, ASEAN và các quốc gia liên quan khác phải cùng nhau hành động để bảo vệ những quyền này, chống lại tham vọng bất công của Trung Quốc.
Chúng tôi kiến nghị công dân và chính phủ các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam hãy gác lại các bất đồng để cùng nhau hành động, hướng tới một giải pháp cho biển Đông dựa trên UNCLOS theo các nguyên tắc mà chúng tôi đề nghị dưới đây. Chúng tôi xin cũng kiến nghị tất cả các quốc gia liên quan khác tích cực ủng hộ một giải pháp như vậy.
1. Các đối tượng trên Biển Đông như các đảo, đá ngầm và bãi đá nổi không nhô lên một cách tự nhiên khỏi mực thủy triều cao không được dùng làm cơ sở để tính vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.
2. Các đối tượng đang có tranh chấp nhô lên một cách tự nhiên khỏi mực thủy triều cao chỉ được dùng để tính vùng lãnh hải 12 hải lý nhưng không được dùng để tính vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa phía ngoài 12 hải lý. Quốc gia cuối cùng được coi là có chủ quyền đối với một đối tượng hiện đang bị tranh chấp cũng sẽ có chủ quyền trên vùng lãnh hải xung quanh đối tượng đó nhưng sẽ không được dùng nó để đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa phía ngoài 12 hải lý.
3. Khu vực Biển Đông ngoài các vùng lãnh hải của các đối tượng có tranh chấp sẽ được quy định là các vùng lảnh hải (theo Phần II UNCLOS), vùng đặc quyền kinh tế (theo Phần V UNCLOS) và thềm lục địa (theo Phần VI UNCLOS) thuộc về Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam.
4. Các đường cơ sở được sử dụng cho việc phân chia nói trên sẽ tuân theo UNCLOS (Điều 5, 6, 7 và, chỉ trong trường hợp của Philippines và Indonesia, theo Điều 47).
5. Tại các nơi có tranh chấp do sự chồng lấn của các vùng biển thì các tranh chấp sẽ được giải quyết công bằng và tuân theo luật quốc tế.
6. Quyền của các quốc gia khác được UNCLOS ghi nhận sẽ được bảo đảm.
Các đối tượng đang bị tranh chấp, bao gồm Quần đảo Trường Sa (Spratlys), Quần đảo Hoàng Sa (Paracels) và Scarborough Shoal không được dùng để tính các vùng đặc quyền kinh tế hay là thềm lục địa. Do đó, việc phân chia các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa không phụ thuộc vào vấn đề chủ quyền trên các đối tượng có tranh chấp. Sự phân chia này có thể thực hiện cho dù vấn đề tranh chấp chủ quyền của các đối tượng nói trên vẫn chưa giải quyết được. Việc phân chia này đảm bảo quyền và an ninh của các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam và tất cả các quốc gia khác.
Nếu Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam tiếp tục theo đuổi các tuyên bố của từng quốc gia mà không hỗ trợ lẫn nhau hoặc không có sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế thì cuối cùng Biển Đông sẽ trở thành lãnh thổ Trung Quốc, hay chí ít cũng trở thành cái hồ của nước này. Cơ hội tốt nhất để các quốc gia có thể ngăn chặn được nguy cơ nói trên là bằng cách có cùng chung tiếng nói trên trường quốc tế, cùng hành động với nhau trên cơ sở công bằng cho tất cả các nước tuân theo UNCLOS, cùng hỗ trợ lẫn nhau và cùng tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông (The South East Asian Sea Reseach Foundation) là một tổ chức tư nhân do nhiều người có gốc từ các nước ASEAN trên toàn thế giới đóng góp tài chính. Quan điểm trình bày trong bài báo này không phản ánh quan điểm lập trường của các nước ASEAN.
Nguồn: http://www.seasfoundation.org/content/view/25/32/lang,english/
The letter on Manila Times!
http://www.seasfoundation.org/content/view/24/32/lang,english/
An open letter to the citizens and governments of the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia and Vietnam regarding the sovereignty dispute in the South China Sea
From the South East Asian Sea Research Foundation
Illustration of the allocation of exclusive economic zones based on UNCLOS. Continental shelves are allocated based on similar principles. China's claim is shown for contrast. The 12-nautical-mile territorial waters of the Paracels, Spratlys and Scarborough Shoal are excluded from this allocation, pending a settlement of the sovereignty disputes over these features. |
The South China Sea is bordered by the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Vietnam and China. This Sea is vital to these countries' economies, transportation and security. In the wider world, the South China Sea is one of the most important maritime routes in the world; it is vital to the economic prosperity of South East Asia, Japan, Korea, Taiwan and all important trading nations. Therefore, the South China Sea dispute is a concern to us all. Among the protagonists, China stands out as by far the biggest threat to all countries. Firstly, while most conflicting claims of sovereignty are over small islands, reefs and rocks, China is unique in claiming virtually the whole South China Sea. Secondly, China's military is the largest by far and is also the subject of the fastest military build up in the region. Thirdly, China is unique among the protagonists in having a history of using force to seize disputed islands from other nations.
China's claim in the South China Sea is comparable to one person claiming sole ownership of the oxygen in the air. Not only is this claim without basis in law or fairness, if it is realized, South East Asia can be dominated and nations that need traverse through the South China Sea can be choked in times of conflict.
It is therefore vital that the South China Sea is not turned into China's territory or into China's lake. The Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Vietnam, ASEAN, China and all nations in the world have rights in this international Sea according to the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS). The Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Vietnam, ASEAN and other concerned nations must work together to safeguard these rights against China's unjust ambitions.
We propose that the citizens and governments of the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia and Vietnam put aside differences and work together towards a solution based on the following principles, which are based on UNCLOS. We further propose that other concerned nations promote and support such a solution.
- The South China Sea features, e.g., islands, reefs, rocks, that are not naturally above high tide are not entitled to territorial waters, exclusive economic zone or continental shelf.
- Each disputed feature that is naturally above high tide is entitled to 12 nautical miles of territorial waters but no exclusive economic zone or continental shelf beyond 12 nautical miles. The country that will eventually be deemed to have sovereignty over a disputed feature shall also have sovereignty over the territorial waters around that feature but cannot use it to claim exclusive economic zone or continental shelf beyond 12 nautical miles.
- The area of the South China Sea outside the territorial waters of the disputed features shall be allocated as territorial waters (subject to UNCLOS Part II), exclusive economic zones (subject to UNCLOS Part V) and continental shelf (subject to UNCLOS Part VI) belonging to China, the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia and Vietnam.
- The baselines used in the above allocation shall conform to UNCLOS (Articles 5, 6, 7 and, in the case of the Philippines and Indonesia only, Article 47).
- Where there are disputes due to overlapping maritime zones, the disputes shall be resolved equitably and with results consistent with international law.
- The rights of other nations as granted by UNCLOS shall be guaranteed.
The disputed features, namely, the Spratlys, the Paracels and Scarborough Shoal are not entitled to exclusive economic zone or continental shelf. Thus, the allocation of exclusive economic zones and continental shelf does not depend on the question of sovereignty over the disputed features, and this allocation can be achieved even while the question of sovereignty is unresolved. This will safeguard the rights and security of the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Vietnam and all other nations.
If the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia and Vietnam continue to pursue their individual claims without support from each other or from the international community, the South China Sea will eventually be turned into China's territory or, at least, China's lake. The best chance these countries have to prevent this is by having the same voice on the international stage, working together on the basis of fairness for all and in accordance with UNCLOS, supporting each other, and being supported by the international community.
South East Asian Sea Research Foundation is a private organization funded by ASEAN nationals around the world. The view expressed herein should not be taken in any way to reflect the official opinion of ASEAN countries.
22 Nov, 2008
Chủ quyền đối với Nam Côn Sơn
Bản dưới đây là bài chưa được BBC biên tập.
Đánh giá yêu sách của Trung Quốc với ExxonMobil và BP
Lê Minh Phiếu và Dương Danh Huy
Dù bị Trung Quốc phản đối, ExxonMobil vẫn sẽ hợp tác với Việt Nam. Dù Mỹ không nghiêng về bên nào trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, Đại sứ Mỹ và Thứ trưởng ngoại giao Mỹ nhân chuyến thăm Việt Nam mới đây cũng đã khẳng định rằng các vùng mà ExxonMobil đang hợp tác là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Những động thái này không phải là không có lý do, bởi Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền ở vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn, trong khi những tranh chấp của Trung Quốc đối với những vùng này lại hoàn toàn không có căn cứ.
Chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam theo luật quốc tế
Nhiều người hiểu lầm rằng những phản đối của Trung Quốc liên quan đến các khu vực nói trên là sự tranh chấp chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Thế nhưng, theo luật quốc tế, giả sử như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc về Trung Quốc một cách hợp pháp đi nữa, thì vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn nằm ở phía bắc ranh giới với Indonesia vẫn thuộc về Việt Nam. Bởi, tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến chủ quyền của Việt Nam ở những vùng này.
Theo Điều 57 và 76 của UNCLOS (Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển quốc tế), các quốc gia ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý từ đường cơ sở và một vùng thềm lục địa; nếu địa lý đáy biển cho phép thì có thể rộng tối đa là 350 hải lý từ đường cơ sở hay 100 hải lý từ độ sâu 2500 mét.
UNCLOS cũng quy định là nếu có tranh chấp, trong trường hợp vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của hai quốc gia chồng lấn lên nhau, thì tranh chấp phải được giải quyết một cách công bằng (Điều 74 và 83).
Khi xét xử tranh chấp biển, Toà án Công lý Quốc Tế thường vạch đường trung tuyến giữa hai nước làm ranh giới thử nghiệm, sau đó Toà sẽ xem xét tỷ lệ diện tích được chia cho mỗi nước có gần như tỷ lệ chiều dài bờ biển liên quan tới tranh chấp hay không.
Trong việc vạch ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, luật biển quốc tế không tính những đảo nhỏ, xa bờ, không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng. Nguyên tắc này được pháp điển hóa tại Khoản 3 Điều 121 của UNCLOS và cũng đã áp dụng trong các vụ kiện như thềm lục địa Bắc Hải, Lybia/Malta, Vịnh Maine, Guniea/Guniea-Bisseau.
Toàn thể vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn phía bắc ranh giới với Indonesia và Malaysia, hoặc nằm trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, hoặc nằm trong phạm vi thềm lục địa của Việt Nam (Xem Bản đồ 2). Do vậy, theo Điều 57 và 76 của UNCLOS, những vùng này hiển nhiên thuộc về Việt Nam.
Ngoài Trung Quốc ra, các nước Malaysia, Philippines và Indonesia không tranh chấp chủ quyền của Việt Nam ở vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn. Riêng Brunei tranh chấp một phần nhỏ của vùng Tư Chính – Vũng Mây, nhưng không tranh chấp lô 133 và 134. Như vậy, những nước Đông Nam Á, dù có tranh chấp Trường Sa, vẫn tôn trọng UNCLOS và không có đòi hỏi lấn sâu vào vùng đặc quyên kinh tế hay thềm lục địa của Việt Nam.
Yêu sách vô lý, không có sơ sở của Trung Quốc
Năm 1992, Trung Quốc ký hợp đồng thăm dò dầu khí ở vùng Tư Chính – Vũng Mây với công ty Crestone. Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và Mobil ở vùng Thanh Long. Năm 2007, Trung Quốc gây áp lực buộc BP ngưng hoạt động trong dự án dầu khí ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. (Các vùng Thanh Long, Mộc Tinh, Hải Thạch nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn).
Năm nay, Trung Quốc gây áp lực với ExxonMobil yêu cầu không được cộng tác với Việt Nam trong một dự án thăm dò dầu khí ở bồn trũng Nam Côn Sơn.
Nhưng, chiếu theo luật quốc tế, những yêu sách này hoàn toàn không có cơ sở.
Tất cả các đảo trong quần đảo Trường Sa đều có diện tích dưới 0,5 km vuông, tự thân chúng không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng. Theo các quy tắc pháp lý quốc tế đã dẫn, những đảo này không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Chúng chỉ được hưởng lãnh hải tối đa là 12 hải lý (Điều 121, khoản 2 và 3 UNCLOS).
Bản đồ 3 cho thấy lãnh hải 12 hải lý của tất cả các đảo trong quần đảo Trường Sa nằm ngoài vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn. Vì vậy, tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa không cho Trung Quốc cơ sở pháp lý để tranh chấp vùng này.
Hơn nữa, vùng này nằm về phía Việt Nam của đường trung tuyến giữa bờ biển Việt Nam và các đảo Trường Sa trên thuỷ triều cao (Bản Đồ 3). Hình 1 cũng cho thấy vùng này nằm trên thềm lục địa Việt Nam, hoàn toàn không liên quan tới thềm lục địa của quần đảo Trường Sa.
Vì vậy, Trung Quốc tranh chấp vùng Tư Chính – Vũng Mây, vùng Thanh Long, Mộc Tinh, Hải Thạch, hay bất cứ vùng nào khác trong bồn trũng Nam Côn Sơn, với Việt Nam là một điều hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, ngay cả khi đang tồn tại tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa.
***
Nhằm bảo toàn tính toàn vẹn toàn lãnh thổ trên biển, điều tiên quyết là Việt Nam cần phải giữ vững và thực thi chủ quyền ở vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn. Việc Trung Quốc thành công trong việc xâm lấn vùng này sẽ là một tiền lệ nguy hiểm cho tất cả vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam ở Biển Đông.
Hơn nữa, không nên lẫn lộn giữa tranh chấp những vùng biển rõ ràng thuộc về Việt Nam, bao gồm các vùng biển được đề cập trên đây, với tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Không để cho Trung Quốc dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để ngụy trang cho việc xâm lược các vùng đó của Việt Nam, cũng như việc chiếm phần diện tích 75% trên Biển Đông.
Bản đồ 1: Bản đồ vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn.
Vùng Thanh Long nằm trong lô 05-1B. Vùng Mộc Tinh nằm trong lô 05-3. Vùng Hải Thạch nằm trong lô 05-2. Vùng Lan Tây, Lan Đỏ nằm trong lô 06-1. Vạch chấm đen là “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông.
Bản đồ 2: Vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam
Chú thích: Các hình tròn đen là lãnh hải 12 hải lý của các đảo trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam. Dựa trên bản đồ của PetroVietnam.
Bản đồ 3: Vùng Tư Chính - Vũng Mây nằm ngoài lãnh hải 12 hải lý của các đảo Trường Sa
Các vùng Thanh Long (05-1B), Mộc Tinh (05-3), Hải Thạch (05-2), Lan Tây, Lan Đỏ (06-1) nằm ngoài phạm vi đường trung tuyến từ Trường Sa.Hình 1: Thềm lục địa vùng Nam Côn Sơn thuộc về thềm lục địa Việt Nam, khác biệt với quần đảo Trường Sa
Nguồn: Marine Ecosystem Dynamics Modeling.
21 Nov, 2008
Giới thiệu quĩ nghiên cứu Biển Đông
Ngày nay, trong vấn đề bảo toàn lãnh thổ trên biển, Việt Nam đứng trước hai khả năng mang tính lịch sử. Một là giữ được nửa triệu km vuông trên Biển Đông, một diện tích lớn hơn lãnh thổ trên bộ mà Việt Nam được quyền hưởng theo luật biển quốc tế, như phần nằm trong đường màu xanh trên bản đồ trên[1]. Hai là bị Trung Quốc chiếm, theo như “đường lưỡi bò Trung Quốc” có màu đỏ như hình trên.
Để giữ được phần Biển Đông của Việt Nam, chúng ta cần sức mạnh từ dân và sự ủng hộ của quốc tế. Dân mạnh vì ý chí, ý thức và kiến thức. Quốc tế sẽ ủng hộ khi biết về những khía cạnh liên quan tới công lý và tới quyền lợi của họ.
Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông được thành lập vào năm 2007 bởi sự đóng góp tài chính của nhiều người và công sức của một số thành viên. Mục đích của Quỹ là phổ biến ý thức và nâng cao kiến thức và khuyến khích, hỗ trợ nghiên cứu về tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, mặt biển và thềm lục địa, chuẩn bị các chứng cứ lịch sử và pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp sau này và vận động sự ủng hộ của quốc tế đối với Việt Nam.
Để thực hiện mục đích trên, Quỹ có những mục tiêu chiến lược:
- Chuẩn bị và phổ biến các bằng chứng pháp lý và lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông và đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa;
- Bằng con đường truyền thông và ngoại giao, vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.
Cách thức thực hiện:
- Sưu tầm, viết, dịch, xuất bản tài liệu;
- Tư vấn;
- Tổ chức, tham gia các hội thảo liên quan đến Biển Đông;
- Tài trợ, khuyến khích các dự án nghiên cứu về tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông;
- Cộng tác với những phong trào hoà bình về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông;
- Các biện pháp truyền thông và ngoại giao nhằm thu hút sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế đối với Việt Nam.
Xây dựng nhân sự cho Quỹ.
Xuất bản quyển “Địa Lý Biển Đông” của ông Vũ Hữu San
Xuất bản quyển “Tập San Sử Địa 29: Đặc Khảo Hoàng Sa – Trường Sa” trên mạng.
Hỗ trợ ông Nguyễn Nhã viết bài tiếng Anh.
Viết sách giới thiệu tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông.
Viết 3 bài được đăng trên báo hay tạp chí có uy tín.
Đóng góp trên 10 diễn đàn trên mạng.
Cộng tác với một số phong trào hoà bình về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông.
Tài trợ học bổng nghiên cứu để khuyến khích sinh viên luật xuất sắc nghiên cứu về Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa, gieo những hạt giống nhằm hình thành những chuyên gia về luật biển quốc tế.
Xuất bản bản tiếng Việt của quyển “Sharing Resources of the South China Sea” của ông Mark Valencia et al ở Việt Nam.
Tái bản bản tiếng Việt của quyển “Chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa” của bà Monique Chemillier-Gendreau và ở Việt Nam.
Dịch luận án tiến sĩ “Quá trình xây dựng chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa” của ông Nguyễn Nhã sang tiếng Anh.
Hỗ trợ biên tập và xuất bản luận án tiến sĩ “Quá trình xây dựng chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa” của ông Nguyễn Nhã.
3.3.1 Năm 2008
Hỗ trợ tái bản quyển “Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa” của ông Lưu Văn Lợi.
Hỗ trợ tái bản quyển sách về Hoàng Sa, Trường Sa của ông Phạm Kim Hùng.
Hỗ trợ tái bản tài liệu của ông Nguyễn Quang Ngọc.
Sửa những bài thiên vị Trung Quốc trên Wikipedia.
Viết thư yêu cầu đính chính những bản đồ dùng tên Trung Quốc cho Hoàng Sa, Trường Sa.
3.3.2 Năm 2009
Tổ chức hội nghị quốc tế trực tuyến về Biển Đông.
Thành lập những giải thưởng cho những đề tài nghiên cứu về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, Hoàng Sa vàTrường Sa.
4.1.1 Nhiệm vụ
Làm việc theo nội quy của Quỹ.
Tuyển chọn mục tiêu chiến lược.
Tuyển chọn dự án.
Tuyển chọn nhân sự.
Tuyển chọn người quản lý dự án.
Đánh giá dự án.
Quản lý tài chính.
Quản lý tài liệu của Quỹ.
Quản lý các phương tiện IT của Quỹ.
Liên lạc đối ngoại.
Khi cần thì có thể đóng góp 5 giờ mỗi tuần hay hơn.
4.1.2 Nhân sự
Có 5 người trong ban điều hành.
- Nguyễn Đức Hùng
- Trần Đăng Khoa
- Dương Danh Huy
- Phạm Thu Xuân
- Lê Minh Phiếu
4.2.1 Nhiệm vụ
Góp ý trong các nhiệm vụ của ban điều hành.
4.2.2 Nhân sự
Có 5 người trong ban cố vấn.
- Ngô Quang Hưng
- Patrick Phung
- Nguyễn An Nguyên
- Nguyễn Trọng Bình
- Trần Vinh Dự
4.3.1 Nhiệm vụ
Làm việc theo Nội quy của Quỹ.
Suy nghĩ và thảo luận về các mục tiêu chiến lược, dự án, công việc và vấn đề của Quỹ.
Đóng góp cho dự án và công việc của Quỹ.
Khi cần thì có thể đóng góp 1-2 giờ mỗi tuần hay hơn.
4.3.2 Nhân sự
Tính đến cuối tháng 6 năm 2008, Quỹ nghiên cứu Biển Đông đã quy tụ được khoảng 40 thành viên. Ngoài những người trong Ban Điều hành và Ban Cố vấn như đã liệt kê ở trên, có thể kể đến những Thành viên nòng cốt của Quỹ như: Bang C. Dinh, Lê Công Định, Huy Đức, Trang Hạ, Hoàng Thị Hải Hà, Nguyễn Thái Hà, Trần Vũ Hoài, Đặng Việt Hường, Dang N. Lan, Huỳnh Lâm Nguyễn Thái Lĩnh, Bùi Cẩm Lũy, Đàm Quang Minh, Nguyễn Nam, Hà Nam Ninh, Dự Văn Toán, Lê Trung Tĩnh, Lê Vĩnh Trương, Huỳnh Ngọc Tuyên, Nguyễn H. Oanh, Nguyễn Phước, Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn Thanh, Nguyễn Minh Thụy, Hoàng Việt …
Hiện Quỹ cần kết nạp thêm khoảng 10 Thành viên. Quỹ Nghiên cứu Biển Đông kêu gọi những người có khả năng, có tâm huyết tham gia vào Quỹ. Thành viên mới sẽ được kết nạp theo sự giới thiệu của Thành viên cũ.
4.4.1 Nhiệm vụ
Quan tâm và theo dõi công việc của Quỹ.
Khi có những Dự án cụ thể, Quỹ sẽ kêu gọi sự tham gia của các Cộng tác viên. Cộng tác viên sẽ đóng góp vào những dự án cụ thể đó theo khả năng.
Trong thời gian trước mắt, những Dự án cần sự hỗ trợ của Cộng tác viên bao gồm, nhưng không giới hạn:
- Chỉnh sửa những thông tin sai lệch thiên vị Trung Quốc liên quan đến Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa trên Wikipedia, đặc biệt là bằng các ngôn ngữ phổ biến trên thế giới. Quỹ Nghiên cứu Biển Đông sẽ cung cấp các tư liệu lịch sử và pháp lý, và Các Cộng tác viên sẽ định kỳ theo dõi và chỉnh sửa;
- Phát hiện các bản đồ dùng tên Trung Quốc (Xisha, Nansha), và viết thư yêu cầu đính chính lại thành Paracels, Spratlys;
- Tìm kiềm các tài liệu nghiên cứu về Biển Đông, về Hoàng Sa, Trường Sa và các vấn đề liên quan (đặc biệt là các du học sinh đang học tập, nghiên cứu ở nước ngoài);
- Giới thiệu những tài liệu liên quan đến Biển Đông mà Quỹ thu thập, in ấn, dịch, xuất bản… cho những người quan tâm;
- Phổ biến những kiến thức về Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa cho công chúng;
- Giới thiệu Quỹ Nghiên cứu Biển Đông cho những người quan tâm…
4.4.2 Nhân sự
Không giới hạn số lượng Cộng tác viên
Cộng tác viên mới sẽ được kết nạp theo sự giới thiệu của Thành viên hoặc Cộng tác viên cũ.
Trong quá trình hoạt động, nếu Cộng tác viên có nhiều đóng góp tích cực và mang tính thường xuyên, thì sẽ được trao quy chế như một Thành viên chính thức.
Trong từng Dự án cụ thể, sẽ phân công 1 Cộng tác viên và/hoặc Thành viên làm người phụ trách.
5 Thông tin liên lạc
Các tổ chức, cá nhân có nhu có nguyện vọng cộng tác, tham gia, hợp tác hay tài trợ cho Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, xin vui lòng liên lạc theo địa chỉ sau:
Website: www.seasfoundation.org
Email: contact@seasfoundation.org
Người liên lạc:
Anh: Dương Danh Huy (Mr.)
huydanhduong@gmail.com
Mỹ: Nguyễn An Nguyên (Mr.)
nguyenannguyen@yahoo.com
Pháp: Lê Minh Phiếu (Mr.)
leminhphieu@gmail.com hay minh-phieu.le@u-bordeaux4.fr
Úc: Nguyễn Đức Hùng (Mr.)
Việt Nam: Phạm Thu Xuân (Mr.)
conduongvanmauxanh@gmail.com
[1] Bản đồ minh họa phân chia vùng đặc quyền kinh tế theo UNCLOS. Thềm lục địa cũng được phân chia theo nguyên tắc UNCLOS. Tuyên bố của Trung Quốc đi ngược lại với cách phân chia này. Các vùng lãnh hải 12 hải lý của Quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Hoàng Sa và Bãi ngầm Scarborogh không được tính vào vùng phân chia này, cho tới khi các tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo và bãi ngầm này được giải quyết.
20 Nov, 2008
Sóng ngầm dưới mặt biển hữu nghị
Dương Danh Huy và Lê Minh Phiếu
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - www.seasfoundation.org
Minh Biện http://www.minhbien.org/?p=490&print=1
Trang BBC tiếng Việt http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/11/081117_eastseaargument.shtml
Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đang trong quá trình đàm phán phân định chủ quyền vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Vùng biển được đàm phán, theo Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, là “đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng” [1]. Tuyên bố chung của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo ngày 25/10/2008 nói, “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này”[2].
Bản đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ - một số thử thách đối diện Việt Nam trong đàm phán.
Cuộc đàm phán này đã diễn ra từ vài năm, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt”[4] , lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán”[5] và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung. Nhưng đến nay phạm vi chính xác của vùng đàm phán hay khảo sát chung, những đòi hỏi và lập luận mà hai bên đưa ra, cũng như những thoả thuận đã đạt được vẫn chưa được công bố. Cuộc đàm phán này có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam, nhưng lại phức tạp hơn những cuộc đàm phán trước đây để phân định ranh giới với với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ, với Thái Lan và với Indonesia. Cuộc đàm phán này quan trọng vì kết quả của nó ảnh hưởng đến ranh giới biển của Việt Nam ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bên ngoài vùng biển này. Đặc biệt, nó có thể liên quan tới chủ quyền đối với Hoàng Sa vốn đã bị Trung Quốc chiếm đóng và đang trong tình trạng tranh chấp (nói là “có thể” vì phạm vi chính xác của vùng biển được đàm phán bởi hai bên chưa được công bố). Những thử thách mà Việt Nam có thể gặp phải trong cuộc đàm phán đầu tiên với Trung Quốc để phân định ranh giới trên Biển Đông này trước tiên liên quan đến Hoàng Sa. Nhưng, với tham vọng bành trướng của Trung Quốc, những thử thách cũng xuất phát từ những khu vực ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.
Yếu tố Hoàng Sa
Trong tầm ảnh hưởng có thể của Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc có thể dựa vào tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Hoàng Sa phía bên kia đường trung tuyến (đường màu đỏ trong bản đồ trên)[10]. Trên thực tế, năm 1996 Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa, đòi hỏi rằng khu vực bên trong đường cơ sở có diện tích 17.400 km² là nội thuỷ và khu vực 12 hải lý bên ngoài từ đường cơ sở đó là lãnh hải của họ, mặc dù đường cơ sở đó vi phạm UNCLOS[6]. Trung Quốc cũng có thể sẽ đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế xa hơn những vùng này phía bên Việt Nam của đường trung tuyến. Nếu Việt Nam chấp nhận những đòi hỏi này, vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam được hưởng sẽ bị thu hẹp. Nguy hiểm hơn, nếu chấp nhận như thế thì có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa. Trong khả năng ngược lại, Việt Nam cũng có thể dựa vào chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng biển bên kia đường trung tuyến. Tuy nhiên, Trung Quốc, với lợi thế là nước có nhiều sức mạnh và là nước đang chiếm đóng Hoàng Sa (dù việc chiếm đóng đó là bât hợp pháp chiếu theo luật quốc tế), sẽ khó mà chấp nhận những yêu sách như vậy của Việt Nam. Trước thử thách này, Việt Nam khó có thể đòi được sự công bằng trong đàm phán về vùng biển bên trong tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa cho đến khi nào vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng, ví dụ như bởi Toà án Công lý Quốc tế.
Khu vực ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa
Bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Trung Quốc và Việt Nam hiện cũng đang tranh chấp ngay cả những vùng biển đương nhiên thuộc về Việt Nam. Năm 2004 Trung Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực có toạ độ 17°26′42″ Bắc, 108°19′05″ Đông, cách Việt Nam 63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý[7], cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý, tức là ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối với lý do “Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”[8]. Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố là khu vực này nằm bên Trung Quốc của vùng biển ngoài của Vịnh Bắc Bô, do đó Trung Quốc cho rằng sự phản đối của Việt Nam không có cơ sở và không thể chấp nhận được[9]. Cho tới nay Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc đã công bố một số lô dầu khí lấn sang bên Việt Nam của đường trung tuyến. Trong những lô dầu khí này, vùng LD29-1 nằm hoàn toàn bên Việt Nam và phân nửa vùng LD20-1 nằm bên Việt Nam của đường trung tuyến. Theo bản đồ năm 2002 của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc thì hai vùng dầu khí này đang được triển khai. Vùng lấn sang bên Việt Nam nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, cách bờ biển đất liền của Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc dưới 75 hải lý, cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa từ 160 hải lý tới 215 hải lý.

Bản đồ 2: Bản đồ của Công Ty Dầu Khí Hải Dương Trung Quốc . Vào năm 2002, hai vùng dầu khí LD29-1 và LD20-1 được triển khai.
Việc Trung Quốc trắng trợn thừa nhận chủ quyền đối với một khu vực dù cách Việt Nam 63 hải lý, cách Trung Quốc 67 hải lý, bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, và đối với những khu vực tương tự, nói lên phần nào thử thách mà Việt Nam phải đối diện trong đàm phán. Trong vùng biển ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Việt Nam phải vượt qua những thử thách này để đạt được một hiệp định ranh giới biển công bằng. Một hiệp ranh giới biển công bằng là cơ sở pháp lý mạnh mẽ nhất để bảo vệ chủ quyền trước những trường hợp xâm lấn như trên.
Thử thách
Những điều trên cho thấy, đằng sau tuyên bố chung của Việt Nam và Trung Quốc, vẫn tồn tại nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
Hơn lúc nào hết, chúng ta cần quan tâm về cuộc đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những thử thách đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy. Ý chí, kiến thức của mỗi người sẽ làm nên sức mạnh từ toàn dân và điều này sẽ giúp Việt Nam đối phó với những thử thách nhằm bảo toàn chủ quyền của đất nước mà tiền nhân đã để lại.
Chú thích
[1] Xuân Linh (ghi) “Thứ trưởng Ngoại giao: Vùng khai thác dầu thuộc chủ quyền VN”, Vietnam Net, 27/08/2008. Bản trên Google cache (kiểm tra ngày 12/11/2008): http://216.239.59.104/search?q=cache:U5hKj97NXBMJ:www.vietnamnet.vn/chinhtri/2008/08/800731/+vietnamnet+%2Bthu%2Bhep%2Bkhac%2Bbiet&hl=en&ct=clnk&cd=4&gl=uk
[2] “Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc”, Cổng thông tin của Chính phủ: http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=33,128127&_dad=portal&_schema=PORTAL&pers_id=130959&item_id=9921858&p_details=1
[3] Các lô dầu khí Trung Quốc từ bản đồ của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (bản đồ 2)
[4] Xuân Linh (ghi), bài báo trên Vietnam Net đã dẫn.
[5] “Tăng cường quan hệ đối tác toàn diện Việt-Trung”, TTXVN: http://www.vnagency.com.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/273396/Default.aspx
[6] Daniel J. Dzurek: “The People’s Republic of China Straight Baseline Claim”, International Boundary Reasearch Unit, Durham University, Boundary and Security Bulletin Summer, 1996, p. 77 – 89
[7] Nguồn: Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng trả lời phóng viên ngày 19/11/2004 liên quan đến việc tàu Nam Hải 215 kéo dàn khoan vào vùng thềm lục địa Việt Nam, BNG: http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/tt_baochi/pbnfn/ns041119155205
[8] Nguồn: Trả lời của ông Lê Dũng, link đã dẫn.
[9] Chinese Foreign Ministry Spokesperson Zhang Qiyue’s Press Conference, 23/11/2004, http://www.china-botschaft.de/det/fyrth/t171773.htm
[10] Bản đồ chi tiết đường trung tuyến

22 Oct, 2008
Người CS nghĩ được đến tương lai bao xa?
Vậy muốn khống chế tham nhũng, muốn cho người ta sợ đừng có tham nhũng tràn lan thì phải có PHÁP LUẬT cai trị.
PHÁP LUẬT này phải là một pháp luật công bằng chung đối với mọi người chứ không phải là cái thứ pháp luật dùng làm công cụ của tập đoàn người thống trị.
Muốn có một pháp luật công bằng và nghiêm minh đối với tất cả mọi người thì phải đảm bảo một nguyên tắc là KHÔNG CÓ AI, TỔ CHỨC NÀO được phép ĐỨNG TRÊN PHÁP LUẬT.
Muốn vậy thì chỉ có một cách là thực thi DÂN CHỦ, xây dựng nhà nước PHÁP QUYỀN, trao quyền lực vào tay (lá phiếu) nhân dân. Tức là cả ba cơ quan quyền lực HÀNH PHÁP (Chính phủ), LẬP PHÁP (Quốc hội, HĐND), TƯ PHÁP (Tòa án các cấp) cần phải được bầu lên bởi lá phiếu của toàn dân một cách DÂN CHỦ, CÔNG KHAI, CÔNG BẰNG và MINH BẠCH.
Nếu cứ để như hiện nay, VN ta đang được cai trị không khác chi mấy kiểu cai trị của nhà nước phong kiến thời xưa. ĐCS có quyền lực tối thượng đứng trên cả pháp luật giống như vua và triều đình ngày xưa vậy. Pháp luật do đảng, của đảng và vì đảng nên giống như vương pháp ngày xưa vậy.
Nhân dân thì nghèo đói, bị hà hiếp, đất đai bị cướp bồi thường không thỏa đáng, môi trường sống bị ô nhiễm, rất đông người bị xét sử oan uổng như Nguyễn Việt Chiến...
Một chế độ phong kiến độc tài bao giờ cũng trải qua các thời kì: lập nước, hưng thịnh, suy yếu, loạn lạc, và bại vong. Đã rất nhiều người dự đoán rằng, chẳng bấy lâu nữa sẽ lại có CMT8 để lật đổ chế độ độc tài này. Tôi thực sự không mong chuyện đó xảy ra. Bởi vì mỗi lần đất nước loạn lạc thì thêm một lần lạc hậu, và người thiệt thòi nhất vẫn là những người dân đen. Chính họ lại hy sinh xương máu cho những kẻ xúi họ cầm súng đánh nhau.
Nhìn sang những nước dân chủ mà xem, như Na-Uy, Thụy-Điển, Đan-Mạch Mỹ hay Nhật-Bản... họ thực thi dân chủ từ 200 năm nay. Quyền lực thực sự nằm trong tay lá phiếu của người dân, họ xây dựng nhà nước pháp quyền, mọi người bình đẳng trước pháp luật. Bởi vậy ở họ chỉ có xây dựng và phát triển chứ không cần đến chiến tranh để sắp xếp lại xã hội.
NẾU bây giờ ngay lúc này, BCT đưa ra quyết định chuyển VN sang một xã hội dân chủ thì chắc chắn các thành viên BCT sẽ trở thành những người được lưu danh muôn thuở như Thomas Jefferson, George Washington...
CÒN NẾU vẫn cứ bảo thủ cố giữ độc tài quyền lực cai trị thì cũng chỉ vơ vét đầy túi tham rồi chết đi cũng tùng tùng vài phát là hết. Làm quan đến chức to như vậy tưởng là oai hùng rồi cũng chẳng ai thèm để ý đến. Hoặc nếu tàn ác quá, nướng sinh mạng nhiều người quá thì chết đi rồi cả trăm năm sau vẫn bị người ta phỉ nhổ.
15 Oct, 2008
Thiên đô chiếu
Xưa Lý Thái Tổ vừa mới lên ngôi đã dời đô đến Thăng Long, đến thời nhà Nguyễn thì kinh đô được chuyển về Phú Xuân. Há phải các vua thời cổ đại ấy theo ý riêng tự tiện di dời. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, những nơi định đô đều là ở chỗ giữa của đất nước ứng với từng thời đại, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà lão gàn lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Lý, Nguyễn, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi mỗi lần ra vô phải mất đến cả tiếng, viết comment thì phải gửi đi gửi lại cả trăm lần, muốn add bạn bè thì phải mất đến cả tháng, muôn người đều cảm thấy bực bội. Lại thêm cái tay Già-khú hết lần này lần khác bất tín, gạ gẫm người ta chuyển qua Mash nhưng sau lại khai tử Mash, rồi lại gạ người ta qua Plus trong khi chưa hoàn thiện, nay lại gạ gẫm người ta đổi qua Profile đang còn rất sơ sài. Hơn nữa cái anh chàng YHĐ thì làm việc rất vô tội vạ, xoá bài rất chi là bừa bãi đâu có biết là người ta phải bỏ hết bao công sức mới viết được một bài. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi bên VNWeblogs, tên miền của trang nhà rất là dễ nhớ, giao diện bằng tiếng Việt, hỗ trợ bộ gõ tiếng Việt, lại thêm công cụ chuyển nhà từ 360, hầu hết các bài viết sẽ được chuyển cùng với các comment của nó. VNWeblogs này hiện nay tốc độ truy cập cũng nhanh hơn 360, post comment một phát là được ngay chứ không phải làm đi làm lại nhiều lần. Tuy có quick comment và friend list là không chuyển qua được vì hệ thống khác nhau. Một số bài viết quá dài cũng không chuyển qua được thì ta phải chuyển bằng tay, nhưng như thế là cũng đã tốt chán so với các dịch vụ khác. Xem khắp thế giới mạng xã hội đó là nơi chấp nhận được trong thời điểm hiện tại, thực là chỗ có thể dung thân, đúng là nơi có thể gởi gắm dân ta mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
Hì... cụ Lý Thái Tổ có linh thiêng xin đừng trách con đã nhại văn của cụ!
Nhà mới của lão đã được di dời đến http://laoxichlo.vnweblogs.com/
6 Oct, 2008
Thi cao học phải đạt TOEFL 400 điểm!
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=281625&ChannelID=13
Đến khóa tuyển sinh tháng 8-2009, khâu tuyển sinh sẽ thực hiện hoàn toàn theo quy chế mới. Về chương trình đào tạo, học viên của khóa 2008 vẫn áp dụng theo chương trình cũ, từ khóa tháng 2-2009 sẽ đào tạo theo chương trình mới.
Theo quy chế mới, chương trình đào tạo thạc sĩ của chúng ta sẽ chuyển sang phương thức đào tạo tín chỉ. Riêng đối với quy định thực hiện thi môn ngoại ngữ tiếng Anh theo dạng thức TOEFL, IELTS sẽ được bắt đầu từ kỳ thi tháng 8-2009.
Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục sẽ chịu trách nhiệm xây dựng ngân hàng đề thi môn tiếng Anh cung cấp cho các cơ sở đào tạo. Từ nay cho đến kỳ thi tháng 8-2009, những thí sinh có điều kiện có thể đăng ký tham dự các kỳ thi tiếng Anh dạng thức TOEFL hoặc IELTS quốc tế hoặc nội bộ (Institutional), đạt mức độ nêu trên, nộp cho cơ sở đăng ký đào tạo để được xem xét miễn thi.
Trong hội nhập quốc tế hiện nay, tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ được dùng phổ biến nhất và gần như chiếm địa vị độc tôn trong các diễn đàn hội nghị, hội thảo, trao đổi, giao lưu quốc tế. Vì thế, cán bộ khoa học có trình độ thạc sĩ trở lên, ở bất kỳ lĩnh vực, ngành, chuyên ngành khoa học nào, ngôn ngữ dùng trong đào tạo là gì, phải biết tiếng Anh ở mức độ nào đó.
Xuất phát từ ý tưởng đó, quy chế đào tạo thạc sĩ lần này buộc tất cả thí sinh thi tuyển vào học các chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ phải dự thi môn tiếng Anh, trình độ tối thiểu là TOEFL 400 và tiếp tục học thêm để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ phải có trình độ tiếng Anh tối thiểu TOEFL 450.
Đọc đoạn trích ở trên lão thấy rất là củ chuối lắm nhé! Nó giống như là cái gì đó mà bạn hiền nói là "bắt cóc bỏ đĩa" vậy!
1. Trong khi toàn thế giới người ta đa phương hóa, đa dạng hóa giáo dục thì các bố lại tự bó hẹp lại khi bắt con người ta tất tật chỉ được học tiếng Anh mà thôi.
2. Một chính sách rất không đồng bộ khi mà các bậc học thấp hơn thì học đủ các thứ ngôn ngữ như Nga, Đức, Pháp, Nhật, Trung... Giả sử một người học đại học Nhân Văn chuyên ngành "Ngôn ngữ và văn học Nhật Bản" tiếng Nhật của cô giỏi, tiếng Anh chỉ là ở mức giao tiếp cơ bản. Bây giờ đi thi cao học thì lại phải bỏ tiếng Nhật để ôn thi lấy 400 điểm TOEFL thì ai nghe được?
3. Lấy lý do là "đi hội nghị đều dùng tiếng Anh" để bắt ép người ta thi tiếng Anh thì cũng là rất vô lý. Việc tham gia hội nghị đó là việc của người ta, người ta phải tự lo cho việc ấy, với lại việc trình bầy kết quả học tập nghiên cứu của mình bằng tiếng Anh nó khác hoàn toàn với việc thi lấy 400 điểm TOEFL. Lão đã từng gặp ở những hội nghị quốc tế rất nhiều người trình bầy kết quả học tập nghiên cứu của họ bằng tiếng Anh một cách hoàn chỉnh, trả lời câu hỏi và góp ý bằng tiếng Anh cũng hoàn chỉnh, nhưng lại rất khó khăn khi nói chuyện phiếm bằng tiếng Anh. Việc đó đâu có sao, chẳng ai dám đánh giá là chuyên môn người ta kém.
4. Hơn nữa việc thi lấy chứng chỉ quốc tế như vậy lại chẳng mang lại lợi ích gì cho quốc gia khi tiền thi chứng chỉ quốc tế là phải nộp cho các trung tâm ngoại quốc. Mà số tiền này không hề ít. Lão lại đặt ra một sự nghi ngờ rằng ai được lợi trong vụ này mà sao đưa ra cái qui định chuối cả vườn như vậy?
5. Cuối cùng nếu bộ muốn nâng cao trình độ tiếng Anh của học viên cao học thì chỉ cần làm chặt thi đầu vào và đầu ra là được. Bộ cứ bảo là do có tiêu cực nên phải thay đổi cách thức thì chỉ càng thêm nực cười. Bởi vì cải kiểu cơ chế quản lý như vậy thì ở chỗ nào mà chẳng có tiêu cực?
2 Oct, 2008
Trần Bích San: Giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc
KIẾN TRÚC CỦA NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG PHÁP-VIỆT
Tới khi hình thành đầy đủ, hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt có 3 bậc với học trình là 13 năm:
Bậc Tiểu Học 6 năm:
- Lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin)
- Lớp Dự Bị (Cours Préparatoire)
- Lớp Sơ Đẳng (Cours Élémentaire)
- Lớp Nhì năm thứ nhất (Cours Moyen 1ère année)
- Lớp Nhì năm thứ hai (Cours Moyen 2è année) (9)
- Lớp Nhất (Cours Supérieur)
Ba lớp đầu còn được gọi là bậc sơ học. Học xong lớp Sơ Đẳng học sinh thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược (Primaire Élémentaire) Những học sinh được tuyển thẳng lên lớp Nhì năm thứ nhất không bắt buộc phải thi Sơ Học Yếu Lược. Học hết lớp Nhất học sinh được thi bằng Tiểu Học Yếu Lược hay Sơ Đẳng Tiểu Học (Certificat d'Études Primaire Franco-Indigène, viết tắt là CEPFI), phải có bằng này mới được dự tuyển học lên lớp trên.
Bậc Cao Đẳng Tiểu Học (Primaire) 4 năm:
Học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Diplôme d'Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) còn gọi là bằng Thành Chung. Phải có bằng Thành Chung mới được dự thi lên bậc Trung Học tức bậc Tú Tài. Các trường dạy bậc Cao Đẳng Tiểu Học được gọi là Collège.
Bậc Trung Học (Enseignement Secondaire) 3 năm:
Còn được gọi là bậc Tú Tài Pháp-Việt, bậc Trung Học gồm 3 năm. Học xong 2 năm đầu được thi lấy bằng Tú Tài phần thứ nhất (Baccalauréat, 1ère partie). Đậu bằng này được học tiếp năm thứ ba không phải thi tuyển. Năm thứ 3 được chia làm 2 ban: ban Triết và ban Toán. Hai ban có những môn học hoàn toàn giống nhau như Sử. Địa, Ngoại Ngữ. Có những môn giống nhau nhưng số giờ học khác nhau như Đại Số, Thiên Văn. Có những môn chỉ học ở ban này mà ban kia không có như ban Triết có Tâm Lý Học, Siêu Hình Học, ban Toán có Hình Học, Cơ Học, Số Học. Từ niên học 1937-1938 trên toàn cõi Việt Nam đều áp dụng chương trình Pháp-Việt đủ 3 ban: Toán, Khoa Học, Triết. Ngoài ban mình học, học sinh được phép thi tốt nghiệp các ban khác nhưng phải tự học thêm những môn mà ở ban mình theo học không có. Học sinh cũng được phép thi bằng Tú Tài Pháp. Học xong năm này thi lấy bằng Tú Tài Toàn Phần (Certificat de Fin d'Études Secondaire Franco-Indigènes). Học sinh tốt nghiệp 2 hoặc 3 ban hoặc thêm bằng Tú Tài Pháp (10) được ưu tiên khi thi vào các trường Đại Học có thi tuyển như các trường Grandes Écoles ở Pháp hoặc các trường Cao Đẳng Chuyên Nghiệp ở Hà Nội lúc đó.
Từ niên học 1926-1927 Pháp thiết lập thêm chế độ Tú Tài Bản Xứ (Baccalauréat Local) học thêm các môn về văn chương Việt Nam, lịch sử, triết học Đông Phương và Cận Đông (Ấn Độ, Trung Hoa, Do Thái). Chương trình rất nặng, bị chỉ trích và ta thán rất nhiều nên đã bị hủy bỏ từ niên học 1937-1938.
HỆ THỐNG GIÁO DỤC CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC PHÁP-VIỆT
KHÁC BIỆT GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC
Hệ thống giáo dục Pháp-Việt (Enseignement Franco-Indigène) áp dụng ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc đã rập khuôn theo chế độ và tổ chức giáo dục của Pháp nhưng được điều chỉnh, thêm bớt cho phù hợp với thực tế ở Đông Dương và chủ yếu là để đạt mục đích khai thác thuộc địa. Vì thế, học chế áp dụng tại Đông Dương cho bậc học cao nhất, hình thức tương tự như ở Pháp (lúc đầu không có thực chất, sau đuợc cải tiến vì lý do chính trị), gồm có hai loại trường là cao đẳng và đại học:
Trường Cao Đẳng (École Supérieure): là loại trường chuyên nghiệp, nhập học phải hội đủ điều kiện văn bằng đòi hỏi và qua một kỳ thi tuyển (concours). Trúng tuyển được cấp học bổng ăn học suốt học trình. Tốt nghiệp phải làm việc cho chính quyền (trong lãnh vực chuyên nghiệp do trường đào tạo) một thời gian ấn định (1), nếu không, theo nguyên tắc, phải bồi thường tiền học bổng. Các trường cao đẳng, đào tạo các chuyên viên có nghề nghiệp nhất định như bác sĩ, kỹ sư, công chức, giáo sư..., chương trình học có qui củ và kỷ luật chặt chẽ.
Trường Đại Học (Université): muốn nhập học các trường đại học chỉ cần đủ điều kiện về văn bằng đòi hỏi mà không phải qua một kỳ thi tuyển. Việc thu nhận sinh viên không hạn định tuổi tác và số lượng. Chương trình học chú trọng đào tạo một căn bản vững chãi cho tri thức chuyên ngành nào đó nhưng không nhất thiết đóng khung trong một lãnh vực nhất định và cũng không mang tính chất nghề nghiệp bắt buộc như các trường cao đẳng chuyên nghiệp. Sinh viên phải tự túc về học phí (ngoại trừ những sinh viên xuất sắc được học bổng). Khi tốt nghiệp chính quyền không có nhiệm vụ cung cấp việc làm, cá nhân phải tự tìm kiếm.
23 Sep, 2008
Lễ hội Việt Nam 2008
Bài viết đầy đủ có ở link (trang 56 và 57) http://thivien.net/forum_viewtopic.php?ID=362&Page=56
- Đêm trước ngày khai mạc -
Nhân dịp kỉ niệm 35 năm quan hệ hữu nghị Việt - Nhật, lễ hội Việt Nam được tổ chức chính thức trong hai ngày 20 và 21 tháng Chín năm 2008 (Thứ Bảy và Chủ Nhật) tại công viên Yoyogi, Đông Kinh, Nhật Bản.
Tuy nhiên chương trình của lễ hội đã bắt đầu khởi động từ chiều ngày Thứ Sáu (19 tháng Chín). Tất cả các quầy hàng tham gia lễ hội đã rất tấp nập khách ra vào mua bán, đặc biệt là các quầy hàng ẩm thực, giới thiệu món ngon Việt Nam.
Ban tổ chức lễ hội hai phía Việt Nam và Nhật Bản cũng khởi động bằng một màn phát biểu + biểu diễn nghệ thuật trong thời tiết giông bão.
Giới săn tin của các tờ báo cũng đội mưa làm tác nghiệp. Nhưng đáng mến phục nhất là những khán giả trụ lại đến tiết mục văn nghệ cuối cùng.
Nhật Bản đón cơn bão số 13 của năm, đúng dịp lễ hội Việt Nam diễn ra tại Đông Kinh. Do ảnh hưởng của bão, dự báo thời tiết sẽ có mưa nặng hạt vào tối ngày Thứ Sáu, và trưa chiều ngày Chủ Nhật, ngày Thứ Bảy khai mạc lễ hội lại được dự báo là có nắng đẹp.
Không quan tâm đến việc thời tiết không ủng hộ, chương trình lễ hội vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch, những người quan tâm vẫn đến xem và mang theo dù.
Đúng 18 giờ ngày Thứ Sáu, chương trình "đêm trước ngày khai mạc" bắt đầu trên sân khấu chính ở sân khấu ngoài trời công viên Yoyogi - Đông Kinh. Trên sân khấu, hai hàng nghế, ngồi kín mít mấy chục quan khách hai bên Việt Nam và Nhật Bản. Phía dưới khán đài có một số khán giả bắt buộc và một số khán giả tự nguyện. Lúc này chỉ lất phất mưa nên chưa khán giả nào che ô.
Hai người dẫn chương trình lần lượt giới thiệu từng vị đại biểu, đại biểu đứng lên chào, phía dưới vỗ tay cho đúng phép lịch sự.
Màn phát biểu của các quan chức Việt Nam vẫn luôn là như vậy, các ngài đều bước lên cầm tờ giấy và... đọc. Người viết bài này tự nhủ: thực ra các ngài ấy đâu đến nỗi kém như vậy, phát biểu trong một buổi đêm trước khai mạc đâu đến nỗi quá khó.
Ngài thượng nghị sĩ trưởng ban tổ chức phía Nhật Bản thì ngược hẳn lại. Ông ta không giấy má gì cả, bước lên gào thét với cái micro, chân tay vung ầm ĩ với những lời lẽ đáng nể:
"Các bạn thân mến, Việt Nam là một đất nước tươi đẹp, tuy nhiên còn khá lạ lẫm đối với nhiều người. Ở đây, tại lễ hội này, có rất nhiều thứ để các bạn tìm hiểu về đất nước con người Việt Nam. Văn hoá Việt Nam rất đặc sắc, hãy đến đây hàng ngày, đừng bỏ lỡ giây phút nào, trên sân khấu này các nghệ sĩ sẽ cố gắng hết sức chuyển đến các bạn thông điệp văn hoá Việt Nam. Ngoài kia, các quầy ẩm thực Việt Nam, món ăn Việt Nam thuộc vào hàng ngon nhất thế giới, xin hãy thưởng thức từng món một."
Ông ấy đúng là một người hoạt động chính trị có hạng, người nghe không thấy bị nhàm chán và sáo rỗng.
Màn biểu diễn của quan chức kết thúc, các quan ra về, số khán giả bị bắt ngồi xem cũng ra về. Bù vào những chỗ trống đó là những khán giả nhiệt tình thực tâm muốn thưởng thức văn hoá Việt Nam. Lúc ấy trời cũng bắt đầu mưa nặng hạt. Những chiếc dù bắt đầu được giương lên.
Tiết mục đầu tiên là màn biểu diễn múa. Những cô thiếu nữ trẻ trung xinh đẹp lả lướt trong những bộ quần áo dân tộc giống như trong những vở chèo cổ. Người Việt xem còn thấy thích huống chi là người nước ngoài.
Màn biểu diễn gây xúc động nhất là của các em học sinh mù trường Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều khán giả người Nhật đã cảm động rơi nước mắt khi nhìn thấy 9 nghệ sĩ mù biểu diễn với các nhạc cụ dân tộc trên sân khấu.
Các em học sinh mù không những đàn hay hát giỏi mà còn tỏ ra rất tôn trọng khán giả và quyết tâm thực hiện thành công phần biểu diện của mình. Sau tiết mục biểu diễn chung cả chín người, đến tiết mục hát song ca một nam một nữ, sự cố nho nhỏ xảy ra với em bé gái. Những người hỗ trợ kĩ thuật chưa kịp đưa micro cho em gái trong tiết mục song ca, mà bài hát đã sắp phải bắt đầu, em gái đó không hề la lối bắt ai đó phải đưa micro cho mình, em biết tiết mục trước em đánh đàn tranh (đàn thập lục) nhất định người ta phải trang bị micro phía trước, em liền quờ tay ra phía trước rồi loay hoay lấy được chiếc micro thì vừa lúc nhân viên hỗ trợ nhìn thấy, chạy lại đưa cho em chiếc micro không dây.
Tình huống khác, đó là cậu bé chơi đàn bầu. Trong tiết mục đọc tấu đàn bầu, cậu bé đó là nhân vật chủ đạo. Không hiểu sao cái giắc cắm âm thanh từ hộp đàn của cậu lại giở chứng giữa chừng, cậu không nghe thấy tiếng đàn của mình phát ra loa. Không hề lúng túng, cậu vừa cắm lại cái giắc, vừa đuổi theo từng nốt nhạc, các bạn khác vẫn đang phụ hoạ theo tiếng đàn của cậu.
Người xem tuy không đông, nhưng tiếng vỗ tay tán thưởng thì kéo dài mãi không thôi.
Các em học sinh trường mù Nguyễn Đình Chiểu
Theo nhận xét chủ quan của người viết bài này: Các em học sinh mù khiến người ta cảm mến bao nhiêu thì màn biểu diễn của ba ca sĩ nổi tiếng Mỹ Linh, Lam Trường, Hiền Thục khiến người ta thất vọng bấy nhiêu.
Người giới thiệu nói Mỹ Linh là một "diva" của Việt Nam ("diva" là gì, người viết phải hỏi bạn bè mãi mới hiểu), có lẽ giọng hát của Mỹ Linh xứng đáng được như vậy. Tuy nhiên, cách mà Mỹ Linh và Hiền Thục xuất hiện trên sân khấu thì người ta không nhận ra được đó là người Việt Nam. Người viết hơi cổ hủ một chút, suy nghĩ chủ quan rằng: những người hát hay thường ăn mặc kín đáo, chỉ có người hát dở thì mới phải khoe thứ này thứ khác để làm phân tâm người nghe hát. Ví dụ như những giọng hát Tường Vi, Thu Hiền, Thanh Hoa, Khánh Ly, Thanh Tuyền, hay trẻ như Phi Nhung, họ đều ăn vận kín đáo khi biểu diễn.
Vậy thì một "diva" làm sao lại không thể ăn vận kín đáo, nhất lại là đang chở văn hoá Việt Nam đến bạn bè quốc tế.
Hiền Thục thì vận một chiếc váy không thể ngắn hơn, khoe cặp giò lụa nuột nà, khiến lão xích lô già cũng phải nuốt nước bọt đánh "ực".
Mỹ Linh thì vận chiếc váy đủ dài nhưng cũng đủ trễ để khoe đôi tray trần, đôi vai trần, và đôi toà thiên nhiên trần một nửa, khiến người xem muốn mửa.
Họ - những người nổi tiếng - họ sợ kém hở hang hơn các nghệ sĩ nước ngoài hay sao?
Tuy nhiên, khán giả vẫn dành cho họ những tràng pháo tay sau mỗi bài hát mà họ thể hiện.
Phần biểu diễn cuối cùng là của 4 cô gái người Nhật Bản - nhóm nhạc Green Green. Mặc dù người xem không còn nhiều, mưa càng nặng hạt hơn, nhưng 4 cô gái vẫn thực hiện đủ 3 bài hát mà họ đã đăng ký từ đầu. Đáp lại giọng hát mượt mà và tinh thần trách nhiệm của họ, những tiếng vỗ tay lại vang lên át cả tiếng mưa rơi và tiếng gào rú của gió bão.
Đêm trước ngày khai mạc đã thành công tốt đẹp!
- Đội trống thiếu nhi Bát Phiên Thái Cổ (八幡太鼓) và album "Bậc thang thiên thần" -
Người Nhật rất thích biểu diễn trống. Đến với lễ hội Việt Nam lần này, có rất nhiều đội trống từ các vùng miền khác nhau của Nhật Bản. Màn biểu diễn gây nức lòng người xem nhất là của các em thiếu nhi trong đội trống Bát Phiên Thái Cổ.
Đội trống này đã đi xe buýt hết 10 tiếng đồng hồ, trong đêm Thứ Sáu, để kịp đến Đông Kinh vào sáng ngày đầu tiên của lễ hội - ngày Thứ Bảy.
Trước lúc bắt đầu, cô bé đội trưởng đội trống, đã khiến toàn thể lễ hội chợt lặng hẳn xuống bằng những lời phát biểu chân thành và những giọt nước mắt ngây thơ lăn trên gò má của em.
Em nói: "Trước khi đến đây chúng con biết rất ít về đất nước con người Việt Nam. Chỉ một vài hình ảnh chắp vá, đó là anh Nguyễn Đức nạn nhân chất độc mầu da cam. Câu chuyện về cặp song sinh dính liền Việt-Đức, chúng con đã được nghe anh Sakai (境恒 春 - Cảnh Hằng Xuân) kể lại. Nhưng hôm nay, khi được gặp các bạn học sinh trường mù Nguyễn Đình Chiểu, chúng con thấy xúc động vô cùng. Các bạn ấy, bằng tầm tuổi tụi con, hoặc lớn hơn chút xíu, nhưng lại thiệt thòi mất đi đôi mắt. Nhưng các bạn ấy đã không khuất phục số phận, mà chơi nhạc cụ rất hay, chúng con rất ngưỡng mộ họ. Ước mong của con, và cũng là ước mong của mọi trẻ thơ trên trái đất là được sống vui vẻ trong hoà bình và tình bạn. Thêm một mong muốn nhỏ bé của đội chúng con là một ngày gần đây sẽ được sang Việt Nam để biểu diễn, để được cùng góp vui với những bạn nhỏ Việt Nam."
Tiếng vỗ tay vang lên dần dần để cổ vũ cho đội trống.
Các em bắt đầu màn trình diễn của mình.
Những cô bé cậu bé tí hon, trong trang phục đậm đà bẳn sắc dân tộc, múa đôi rùi trống thật điêu luyện trên mặt tang trống để truyền đến cho người xem một không khí lễ hội tưng bừng.
Các em biểu diễn hay quá, khán giả ở bên dưới, cả người Việt và người Nhật đều rạng rỡ, cảm giác như chưa bao giờ được xem một tiết mục trống hay đến thế.
Tiếng trống đã kết thúc khá lâu mà tiếng vỗ tay vẫn cứ ào lên không ngớt, các cô bé cậu bé cứ phải liên tục cúi gập lưng để nói lời cảm ơn.
Kết thúc màn biểu diễn trống, các em vẫn còn tiếp tục ở lại để cùng hát bài "Nấc thang thiên thần" với ba nghệ sĩ Sakai (境恒 春 - Cảnh Hằng Xuân), Tế Điền Chân Hy (細田 真希) và Hoà Điền Thượng Ngộ (Wada Sogo - 和田 尚悟). Họ là những nghệ sĩ sử dụng nhạc cụ Việt Nam, đồng thời tham gia vào phong trào ủng hộ nạn nhân chất độc mầu da cam.
Trước khi cất tiếng hát, Sakai (nhạc sĩ sáng tác) nói: "Anh Nguyễn Việt đã qua đời năm ngoái, bài hát này tôi viết để tặng cho anh, cũng như tất cả những bạn nhỏ nạn nhân chiến tranh khác. Anh và các bạn, đang ở trên thiên đường, xin hãy lắng nghe!"
Sau đó tiếng hát của các nghệ sĩ hoà quyện với tiếng hát các em nhỏ gửi theo gió thông điệp thiên thần.
Album "Nấc thang thiên thần". "Track" 1 là lời giới thiệu bằng tiếng Nhật được đọc bởi Nguyễn Đức. "Track" 2 là bài bát "Nấc thang thiên thần" do Sakai (境恒 春 - Cảnh Hằng Xuân) sáng tác.
Album này hoàn thành bởi sự hợp tác từ nghệ sĩ hai bên Việt Nam và Nhật Bản. Toàn bộ lợi nhuận từ việc phát hành CD này sẽ ủng hộ cho quĩ người tàn tật ở Việt Nam.
Khi lão xích lô mua CD này, anh nghệ sĩ chơi nguyệt cầm Hoà Điền Thượng Ngộ (Wada Sogo - 和田 尚悟) đã kí tặng lên bìa CD.

Những nghệ sĩ tham gia trong CD "Nấc thang thiên thần"
Trình diễn bài hát "nấc thang thiên thần"
Dạo quanh lễ hội
Hoàng gia và chính phủ Nhật Bản rất coi trọng lễ hội này, bằng chứng là Hoàng Thái Tử nước Nhật đã đến tham dự lễ khai mạc buổi sáng ngày Thứ Bảy. Sự xuất hiện của hoàng gia chứng tỏ bạn rất quan tâm đến mối quan hệ song phương hữu hảo.
Trong suốt thời gian Hoàng Thái Tử Naruhito (徳仁親王 Đức Nhân Thân Vương) tham dự khai mạc, an ninh được tăng cường đến mức tối đa, cảnh sát đủ loại bao vây vòng trong vòng ngoài, những người đến xem không được phép chụp hình. Chỉ có các nhà báo được phép làm việc trong khu vực dành cho báo chí.
Quan chức hai bên ngồi ở hai hàng ghế trên sân khấu, riêng Hoàng Thái Tử Naruhito ngồi một mình một bàn cũng ở trên sân khấu. Xem ra làm Thái Tử ở Nhật cũng không sướng chi mấy, chẳng khác chi tù giam lỏng, chẳng có bạn bè gì cả. Ông đến dự lễ khai mạc cũng chỉ được ngồi im một chỗ và không nói, không làm gì cả.
Sau lễ cắt băng chính thức khai mạc lễ hội, Thái Tử ra về, nhường lại sân khấu cho các màn biểu diễn nghệ thuật.
Việt Nam đưa đến lễ hội dàn nhạc cụ dân tộc trường mù Nguyễn Đình Chiểu, một tiết mục sáo trúc của nghệ sĩ Đinh Linh, một tiết mục đàn bầu của nghệ sĩ Hoàng Anh, ba ca sĩ nổi tiếng Mỹ Linh, Lam Trường, Hiền Thục. Thêm một ca sĩ nổi tiếng khác là Kasim Hoàng Vũ với bài hát "đôi mắt Pleicu" trình bầy giữa hai lần trình diễn thời trang áo dài của nhà thiết kế Võ Việt Trung và nhà thiết kế Sĩ Hoàng.
Nói đến màn trình diễn áo dài, quả thực lại là một sự thất vọng lớn. Ở mẫu thiết kế của Võ Việt Trung, người viết đã buột miệng châm biếm "áo dài hay chân dài" khiến mọi người xung quanh được trận cười bể bụng. Còn với Sĩ Hoàng thì có áo dài nhưng lại không có quần... trắng, mà là quần jean.
Phía bạn đem đến lễ hội những màn biểu diễn rất công phu, như màn trình diễn Tanigumi của tỉnh Gifu đã có truyền thống từ 800 năm trước. Màn trình diễn Tanigumi đã được Unesco xếp hạng di tích phi vật thể. Màn trình diễn trống Hachiman, màn trình diễn trống Tomika-harumi...
Ồn ào và sầm uất nhất lễ hội là khu chợ ẩm thực. Người Nhật hay người Việt đến đây đều cố gắng thưởng thức hết tất cả những món ngon của hội chợ. Ở trung tâm của khu hội chợ ẩm thực là một khu lều dựng tạm có thể cùng lúc chứa được khoảng 200 khách, người ta đến xếp hàng mua đồ rồi ra khu lều đó để ăn. Ngoài khu đó ra, người ta tận dụng mọi khoảng trống để kê bàn ghế cho khách ở khắp nơi trong khuôn viên của lễ hội. Nhiều chỗ ngồi như vậy, mà chỗ nào cũng luôn luôn có khách ngồi ăn la liệt.
Món phở là món nổi tiếng nhất và rất nhiều quầy bán phở, quầy nào người ta cũng xếp hàng chờ mua dài cả mấy chục người. Ngoài món phở, còn có các món như bún bò Huế, nem cuốn, chả giò (chả nem), bánh xèo, bánh ít, chuối chiên, bánh mì Sài Gòn, bánh cuốn nóng (bánh ướt). Vất vả nhất là chờ để được ăn món bánh cuốn nóng. Bởi có mỗi một quầy tráng bánh, với hai nồi tráng, dù khách chỉ ăn một cái để thưởng thức thì cũng phải xếp hàng rất kiên trì. Khu chợ ẩm thực tuy ồn ào với những tiếng rao, tiếng người nói cười ồn ã, nhưng những người đứng xếp hàng chờ đến lượt mình thì vẫn rất văn minh lịch sự.
Mọi người ai ai cũng tự giác thực hiện bổn phận của mình để giữ gìn bầu không khí văn minh chung. Bát giấy, đũa gỗ, vỏ lon, chai nhựa, ai dùng xong đều tự tay đem bỏ vô thùng rác đúng loại, không ai để bừa bãi tại nơi ăn uống.
Người Việt, người Âu Châu, người bản xứ, đối xử với nhau rất thân thiện và vui vẻ.
Mọi người cùng vỗ tay cùng nhau hát hùa theo tiếng hát lơ lớ của cô ca sĩ chính của ban nhạc Nhật Bản JYPSY QUEEN vọng xuống từ phía sân khấu chính:
"Bốn phương trời ta về đây chung vui
Không phân chia giọng nói tiếng cười
Cùng nắm tay ta kết tình thân ái
Trao cho nhau bao điều thiết tha..."
Tiết mục sáo của nghệ sĩ Đinh Linh
Nghệ thuật cắt tỉa
14 Sep, 2008
Lại chuyện phản động
Lão cũng không biết chính xác là họ có đúng "phản động" hay không?
Nhưng những người lớn tiếng mắng họ là phản động có hiểu như thế nào là sự khác nhau giữa "phản động" và "chống lại sự bất công của chính quyền" hay không?
Thời năm 39, khi Trưng Vương nổi dậy chống nhà Hán, nhà Hán gọi Trưng Vương là phản động.
Thời năm 938, khi Ngô Vương Quyền khởi binh chống lại nhà Nam Hán, nhà Nam Hán gọi Ngô Vương Quyền là phản động.
Thời Lê Hoàn thay ngôi nhà Đinh, họ hàng của vua Đinh nói Lê Hoàn là phản động.
Lý Công Uẩn thay ngôi nhà Lê, quan quân nhà Lê nói Lý Công Uẩn là phản động.
Trần Thủ Độ đưa Trần Cảnh thay nhà Lý, người ta cũng nói Trần Thủ Độ và họ Trần là phản động.
Nhà Trần suy đồi, quan tham đục khoét vô tội vạ, vua bù nhìn, Hồ Quí Ly phế truất vua Trần, cũng bị gọi là phản động. Bọn quan lại tham nhũng còn sót lại của nhà Trần liên tục gây bất ổn chống lại Hồ Qui Ly để cuối cùng đất nước rơi vào tay nhà Minh.
Khi vua Lê thối nát, dân đói khổ lầm than, Mạc Đăng Dung cướp ngôi cũng bị coi là phản động.
Vua Quang Trung đánh đông dẹp bắc, chấn hưng đất nước, cũng bị nhà Nguyễn gọi là giặc.
Khi nhà Nguyễn suy thoái, quan tham đông hơn dân thường, người người phẫn uất. Khởi nghĩa bùng lên khắp nơi. Sách sử ghi là "giặc dã nổi lên khắp nơi".
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đặt ra 3 mục tiêu:
- Độc lập dân tộc
- Người cày có ruộng
- Công bằng xã hội
Với 3 mục tiêu trên:
- Mục tiêu số 1 vẫn bền vững cho đến nay.
- Mục tiêu số 2 thì sao? khi quan tham làm công tác thu hồi đất thì thiếu đồng bộ, bồi thường không thỏa đáng, khiến hàng vạn dân cày bây giờ trở thành tay trắng? Người ta kéo nhau đi khiếu kiện ầm ĩ khắp nơi.
- Mục tiêu số 3 thì càng tệ hơn khi VN có gần 40 triệu người đang sống dưới mức nghèo khó và thường xuyên đói, trong khi ấy quan tham lại phè phỡn, xa xỉ và lãng phí. Quan tham chỉ uống 1 ly rượu thôi cũng bằng tiền nuôi sống một gia đình nông dân ở vùng nông thôn cả một tuần.
Một xã hội công bằng không phải là tất cả mọi người đều có mức sống như nhau. Nhưng một xã hội đạt mức công bằng tối thiểu là một xã hội đảm bảo được quyền sống chính đáng của người lao động chân chính.
Ở VN bây giờ có phải là một XH công bằng hay không thì tự bạn đọc phán xét lấy. Muốn phán xét thì hãy đi xa hơn nữa cái nơi bạn đang được o bế. Hãy tìm hiểu cả những thứ người ta không muốn dạy cho bạn.
Vậy có đáng lên án hay không những vị làm quan khi mà 2 trong 3 mục tiêu của cách mạng nhân dân đã không thực hiện đúng. Rất tiếc các vị làm quan chỉ lo vơ vét, mấy ai quan tâm việc hơn 60 năm trước người dân tham gia cách mạng vì lý do gì.
Vậy ai là phản động?
Tự do thì sao?
Ở VN đúng là có tự do, tự do trong khuôn khổ của pháp luật. Đúng vậy!
Nhưng cái pháp luật của VN lại không đúng với nhưng cam kết quốc tế mà CQ VN đã ký, đặc biệt là Công ước Quốc tế về Quyền con người, trong đó có cái quyền quan trọng nhất là quyền tự do ngôn luận.
Người ta nói ở VN cho phép biểu tình đúng luật. Được, lão tôi công nhận rằng "trên giấy tờ" thì đúng là như thế.
Nhưng trên thực tế thì sao? Ai cũng thấy rõ hồi cuối năm 2007 những cuộc biểu tình của giới trẻ chống lại sự bành trướng của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Tại sao bị đàn áp dã man thế?
CQ nói đó là biểu tình tự phát trái pháp luật. Được, tôi đồng ý!
Nhưng sau đó, ban tổ chức biểu tình đã gửi công văn cho TT CP xin phép biểu tình chống nhà cầm quyền Bắc Kinh khi họ vẽ Hoàng Sa và Trường Sa vao bản đồ rước đuốc Olympic với ý nghĩa HS-TS là của TQ. Công văn xin biểu tình có ghi rõ ngày giờ và vị trí nơi biểu tình. Mục đích của biểu tình là phản đối việc vẽ bản đồ như trên.
Nhưng vì sao họ không duyệt cho biểu tình?
Vậy "tự do" có hay không?




